CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT – THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ SAO VIỆT
Văn phòng giao dịch: Số 2 Ngõ 97 Nguyễn Ngọc Nại - Thanh Xuân - Hà Nội
Email: saovietxulynuoc@gmail.com
Điện thoại: 0989.41.7777 - 0985.22.33.88

Virut trong nước uống – Các phương pháp xử lý nước nhiễm virut

Nước uống có virut có thể gây ra các bệnh về tiêu hóa cho người sử dụng. Virut là những ký sinh trùng rất nhỏ (có kích thước từ 0,000010 đến 0,000025 mm hoặc từ 0,1 đến 0,004 micron) có thể tiếp quản các tế bào riêng lẻ trong vật chủ và sử dụng chúng để tự sinh sản. Virut là nguyên nhân của 50% các bệnh liên quan đến nước ngầm trên toàn thế giới, ngay cả ở Mỹ việc nước giếng bị nhiễm virut là chuyện thường gặp.

Phương pháp xử lý nước uống nhiễm virut

Việc tiếp xúc với phân của người, gia súc hoặc động vật hoang dã có thể góp phần tạo ra virut trong nước. Điều này có thể đến từ các nguồn như đường ống bị rò rỉ hoặc hệ thống tự hoại hoạt động không đúng cách hoặc nơi có phân hoặc bùn thải chưa được khử trùng trong các khu vực nông nghiệp. Những khu vực đó có thể bao gồm chuồng trại hoặc khu vực chứa phân, đồng cỏ hoặc bãi cỏ hoặc những nơi mà phân hoặc bùn thải được đổ xuống đất.

Hệ thống cống thoát nước của thành phố thường bị bỏ qua trong các đợt mưa lớn khi lưu lượng thải lớn hơn khả năng xử lý của hệ thống xử lý. Điều này có thể dẫn đến nước thải thô xâm nhập vào các dòng chảy do đó có thể ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nước ở hạ lưu.

Nước phải được kiểm tra vi khuẩn coliform để xem nó có nguy cơ bị ô nhiễm bởi nước thải hoặc phân, có thể chứa virut có thể lây nhiễm sang người hay không. Nếu nguồn nước của bạn bị nhiễm vi khuẩn coliform nó cũng có thể bị nhiễm các sinh vật có hại khác như động vật nguyên sinh hoặc giun, có thể gây ra các vấn đề sức khỏe như kiết lỵ, nôn mửa và tiêu chảy mãn tính.

Virut có thể tồn tại trong nước và lây nhiễm ra ngoài.

Virut trong nước uống gây ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào

Virut đường ruột là một loại virut lây nhiễm qua đường tiêu hóa của người và động vật và được bài tiết qua phân. Một loại virut phổ biến lây nhiễm sang người qua nước uống là virut rota. Virut rota gây ra bệnh viêm dạ dày ruột đặc biệt nghiêm trọng ở trẻ em.

Một loại virut đường ruột phổ biến khác lây lan qua nước uống là virut viêm gan A. Trong giai đoạn dễ lây nhất của bệnh này, người bệnh thường không có dấu hiệu nhiễm trùng nên rất khó ngăn chặn việc lây lan. Virut được bài tiết từ người nhiễm bệnh sau đó thâm nhập vào nước. Virut viêm gan A gây viêm gan, suy nhược, buồn nôn, sốt hoặc vàng da. Các trường hợp nhẹ của viêm gan A cần nghỉ ngơi trong một hoặc hai tuần, các trường hợp nặng có thể gây tổn thương gan hoặc tử vong.

Các loại virut phổ biến khác lây nhiễm vào nước uống là norovirus gây viêm dạ dày ruột và enterovirus gây bệnh bại liệt và các bệnh  không liên quan đến bại liệt. Hầu hết những người mặc bệnh bại liệt không có triệu chứng hoặc rất ít triệu chứng nhưng tổn thương vĩnh viễn đối với chức năng cơ ở chân hoặc tay xảy ra trong một số trường hợp.

Các vi khuẩn đường ruột không bại liệt là một trong những nguồn lây nhiễm virut lớn nhất ở người. Hầu hết các bệnh nhiễm trùng không gây ra các triệu chứng nhưng những người bị bệnh do các loại virut này thường phát triển các triệu chứng giống như cảm lạnh hoặc cúm.

Tiêu chuẩn nước dành cho ăn uống của Việt Nam quy định phải đảm bảo không có bất kỳ loại vi khuẩn, virut nào trong nước ăn uống.

Các phương pháp xử lý nước uống nhiễm virut

Các vấn đề với nước giếng bị nhiễm khuẩn thường có thể được khắc phục bằng cách thực hiện các biện pháp ngăn nước mặt làm ô nhiễm nguồn nước, chẳng hạn như bịt kín hộp lò xo hoặc sử dụng nắp giếng. Duy trì đúng cách hệ thống tự hoại hoặc kiểm soát các nguồn chất thải động vật gần giếng hoặc suối cũng có thể giúp giải quyết vấn đề.

Dưới đây là các phương pháp xử lý nước uống nhiễm virut:

Đun sôi nước

Đun sôi nước ở mức sôi lăn tăn trong một phút sẽ tiêu diệt an toàn tất cả virut và các sinh vật lây nhiễm khác. Đây không phải là giải pháp tốt về lâu dài vì tốn nhiều năng lượng và công sức và chỉ áp dụng cho một lượng nhỏ nước.

Nếu không kiểm soát được nguồn lây nhiễm vào nguồn cung cấp nước, nước uống bị nhiễm virut và sinh vật lây nhiễm có thể được xử lý liên tục bằng tia cực tím UV, ozon hóa hoặc khử trùng bằng clo.

Khử trùng nước bằng tia cực tím từ đèn  UV diệt khuẩn nước

Khử trùng bằng tia cực tím hoạt động bằng cách tiêu diệt virut và các sinh vật lây nhiễm khác bằng cách cho chúng tiếp xúc với tia cực tím được phát ra từ các đèn UV diệt khuẩn nước.

Bức xạ UV ảnh hưởng đến vi sinh vật như Coliform hay E.coli … bằng cách thay đổi DNA trong tế bào và cản trở quá trình sinh sản của chúng. Đèn UV diệt khuẩn nước không loại bỏ các sinh vật ra khỏi nước mà nó chỉ đơn thuần bất hoạt chúng.

Hiệu quả của quá trình bất hoạt vi sinh vật của đèn UV diệt khuẩn nước liên quan đến thời gian tiếp xúc và cường độ đèn cũng như các thông số chất lượng nước chung. Thời gian tiếp xúc được tính theo đơn vị là microwatt – giây trên cm vuông (µwatt-giây/cm2). Hầu hết các đèn UV diệt khuẩn nước có cường độ đèn từ 30.000 – 50.000 µwatt-giây/cm2. Vi khuẩn coliform bị tiêu diệt ở 7.000 µwatt-giây/cm2.

Phương pháp khử trùng này tiêu thụ một lượng điện năng nhỏ không đáng kể. Điều quan trọng là nước phải rất trong để tia UV có thể tiếp cận các virut vì vậy bất cứ thứ gì làm cho nước không trong suốt hoàn toàn (chẳng hạn như cặn hoặc chất hữu cơ) phải được lọc ra trước khi nước đi vào buồng sáng. Tương tự như vậy, ống bọc thủy tinh bao quanh nguồn sáng cũng phải được giữ sạch cặn.

Khử trùng nước bằng clo

Ngược lại với phương pháp khử trùng nước bằng đèn UV, hệ thống khử trùng nước bằng clo tiêu diệt virut và các vi sinh vật khác về mặt hóa học. Hệ thống khử trùng nước bằng clo bổ sung clo liên tục vào nước qua hệ thống cấp. Vì cặn lắng trong nước có thể cản trở việc khử trùng nên đặt một bộ lọc trước vòi phun clo. Clo được tiêu thụ vì nó tiêu diệt virut và các sinh vật khác trong nước cũng như phản ứng với các tạp chất khác (như sắt hoặc chất hữu cơ). Để đảm bảo khử trùng đầy đủ, cần bổ sung đủ clo để có một lượng nhỏ còn lại sau khi tiêu thụ. Tuy nhiên, lượng clo dư này có thể ảnh hưởng đến hương vị của nước vì vậy có thể loại bỏ nó trước khi uống.

Quá trình clo hóa cần một khoảng thời gian tiếp xúc nhất định để nó có thể tiêu diệt vi sinh vật (thường là 30 phút). Đây là lý do tại sao nước thường được lưu trữ trong một bể chứa lớn hoặc chảy qua một loạt các ống cuộn sau khi được khử trùng bằng clo.

Hệ thống clo phải được bảo trì để đảm bảo rằng chúng hoạt động tốt và nguồn cung cấp clo phải được bổ sung định kỳ.

Xử lý nước nhiễm virut bằng ozone

Quá trình xử lý nước nhiễm virut bằng ozone tương tự như quá trình clo hóa ở chỗ ozone được bơm vào nước và tiêu diệt virut và các sinh vật khác. Ozone là một loại khí oxy hóa được sản xuất bằng điện và sau đó được bơm vào nước. Hệ thống ozone hóa tốn kém hơn so với hệ thống khử trùng bằng tia cực tím UV và clo nhưng chúng có thể xử lý nhiều chất gây ô nhiễm như virut, vi khuẩn, sắt và mangan.

 

scroll top